Mục sư Kim Sung Hoon:
Đa-vít viết Thi Thiên 51 sau khi phạm tội cùng Bết-sê-ba và đã
bị tiên tri Na-than quở trách. Lúc đó lòng Đa-vít ở trong tối
tắm và ông hoàn toàn không thấy hình ảnh mình trước mặt Đức Chúa
Trời. Đa-vít ở sâu trong tội lỗi nhưng không nhận thức điều đó
cho đến khi Na-than quở trách mình. Khi tội lỗi Đa-vít bị Na-than
bày tỏ ra, thì Đa-vít thấy hình ảnh xấu hổ của mình. Bị bày tỏ
ra Đa-vít là một người gian ác. Nhưng ông đã xưng nhận trong Thi
Thiên 22 rằng hình ảnh mình là của một con vật, Đa-vít lại nhận
thức một lần nữa về con người của mình, cho nên Đa-vít cầu nguyện
trong Thi Thiên 51. Trong câu 1 ông nói: “Đức Chúa Trời ôi! Xin
hãy thương xót tôi… xoá các sự vi phạm tôi.” Ở đây, Đa-vít xưng
nhận mình chỉ trông cậy nơi sự thương xót và lòng nhân từ của
Đức Chúa Trời.
Trong Giacơ 2:13, Đức Chúa Trời phán rằng: “… sự thương xót thắng
sự đoán xét.” Chỉ có một điều thắng được sự phán xét là sự thương
xót. Đa-vít biết được con đường để giải quyết vấn đề của tội lỗi
mình bởi vì ông đã được tự do khỏi tội lỗi qua sự thương xót của
Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời hiện ra với người ta trong hai tư
cách: Ngài là Chánh án đối với tội nhân, nhưng là Cha của người
công bình. Bởi vì luật pháp là cái quan hệ duy nhất giữa chánh
án và tội nhân, không có sự tha thứ hay là thương xót; cho nên
chỉ có sự phán xét theo luật pháp mà thôi. Khi tội lỗi bị bày
tỏ ra, thì phải trả giá cho tội lỗi. Không phải sẽ được tha khi
người ta nài xin. Tội nhân đứng trước sự phán xét của Đức Chúa
Trời thì có hy vọng gì không? Cái nầy hoàn toàn khác với quan
hệ giữa cha và con. Trong một gia đình thì sử dụng tình yêu thương
không phải là luật pháp. Bởi vì không có luật pháp, nên tội lỗi
cũng không xuất hiện. Cha mẹ không phải thương con cái mình theo
hợp đồng, nhưng họ yêu thương không điều kiện. Trong tình thương
đó, thì không có việc đem ra toà. Quan hệ cha-con thì không bao
giờ bị phá đi được mặc dầu người con phạm tội gì đi nữa. Thế giới
của gia đình là thế giới chia sẽ chung một tấm lòng. Vấn để lớn
nhất trong một gia đình là khi con cái không còn tin tưởng cha
mẹ mình nữa. Sự không tin cắt đứt đi sự chia sẽ của tấm lòng.
Không có cha mẹ nào muốn đóng lòng với con cái mình; nhưng khi
con cái phạm tội, chúng nó sợ và nghi ngờ về tình thương của cha
mẹ mình. Cho nên, chúng nó tránh khỏi mặt cha mẹ, cảm thấy nặng
nề, và cuối cùng thì ngã vào tối tăm. Chỉ có một con đường để
được tự do khỏi mọi tối tăm là khi chúng nó nhận ra được tình
thương của người cha, vì người cha luôn chấp nhận mặc dầu như
thế nào. Việc con trai ăn cắp tiền trong túi cha mình không phải
là tội, nhưng nếu một người lạ ăn cắp tiền trong túi cha mình,
thì đó là ăn cắp. Trong việc nầy, chúng ta phải hỏi mình: “Tôi
có trở thành con cái của Đức Chúa Trời chưa?” Đây là một câu hỏi
rất quan trọng. Ai có thể trở thành con cái của Đức Chúa Trời?
Một người sanh bởi Đức Chúa Trời thì là con cái Đức Chúa Trời.
Đó là qua dòng giống, không phải là qua hành động. Việc làm của
người ta không có liên quan gì đến việc trở nên con cái Đức Chúa
Trời; nhưng nhiều người chưa bao giờ trở thành công bình trước
Đức Chúa Trời. Để gọi mình là công bình họ cảm thấy rất nặng nề.
Lòng những người đó chưa bao giờ biết lẽ thật. Mỗi khi tôi nói
với người ta tôi là công bình, tôi thường gặp người hỏi rằng:
“Vậy thì mục sư nói mình không phạm tội hả?” Những người đó không
biết về khái niệm của sự công bình. Những người công bình là những
người có sự công bình của Đức Chúa Trời. Rôma đạn 10 có nói về
sự công bình của con người và sự công bình của Đức Chúa Trời.
Sự công bình của Đức Chúa Trời là trọn vẹn và không có tì vít,
nhưng sự công bình của con người thì đầy dẫy lỗi lầm và vấn đề.
Trong Phi-líp 3:9 thì Phao-lô nói rằng ông không có sự công bình
của con người, nhưng là sự công bình của Đức Chúa Trời.
Khi một người công bình phạm lỗi thì không phải là vấn đề vì người
đó có sự công bình của Đức Chúa Trời. Không màng đến hành động
của họ, người công bình luôn là công bình trước mặt Đức Chúa Trời
vì sự công bình của Đức Chúa Trời không có liên quan gì đến họ.
Nhưng vấn đề là người ta chưa hề có sự công bình của Đức Chúa
Trời. Họ đi nhà thờ, cầu nguyện chăm chỉ, và thờ phượng Đức Chúa
Trời với nước mắt và sự cống hiến, nhưng vẫn còn thiếu sự công
bình của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh nói rằng: “Vì tôi làm chứng
cho họ rằng họ có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời, nhưng lòng sốt
sắng đó là không phải theo trí khôn. Bởi họ không nhận biết sự
công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công bình riêng
của mình, nên không chịu phục sự công bình của Đức Chúa Trời.”
Làm cực nhọc mà không có sự công bình của Đức Chúa Trời, thì đó
là sự công bình của riêng mình. Vậy thì ai có thể có được sự công
bình của Đức Chúa Trời? Chúa Jêsus nói: “Phước cho ai đói khác
sự công bình, vì sẽ được no đủ.” (Ma-thi-ơ 5:6). Ai là người đói
và khát sự công bình? Đó là người không có sự công bình của mình.
Như một người không có nước thì bị khát, nếu ai nhận ra rằng mình
không có sự công bình và chỉ có những điều dơ bẩn thì sẽ đi ra
khỏi chính mình, và người đó sẽ nhận sự công bình của Đức Chúa
Trời.
Đa-vít xưng nhận rằng: “Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi. Tội
lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi.” (Thi Thiên 51:3) Đa-vít xưng nhận
rằng trong mình không có sự công bình. Đa-vít nói rằng mình là
một người vô dụng không làm được gì để đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Trong câu 5, Đa-vít nói: “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian-ác, Mẹ
tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi.” Cái góc của Đa-vít là tội
lỗi; cái góc của một cây tội lỗi; cho nên Đa-vít không có hy vọng
một trái tốt nào từ chính mình. Tại sao Đa-vít lại phạm tội? Một
lý do Đa-vít lấy vợ của U-ri và đưa U-ri vào chiến trường là vì
Đa-vít là vua. Nếu ông không phải là vua thì chắc là không có
phạm tội lỗi đó. Người ta phạm tội là bởi vì họ trở thành vua
hay là người cai trị lòng của mình. Tai hoạ xảy đến khi người
trở thành người ‘tôi làm được.” Sau khi Đa-vít phạm tội, ông xưng
nhận rằng mình có bản ngã của sự gián ác. Qua sự việc nầy ông
nhận thấy rằng hy vọng mình chỉ ở trong Đức Chúa Trời mà thôi.
Chúng ta không thấy được quyết tâm hay là phương pháp gì từ Đa-vít
trong Thi Thiên đoạn 51. Đa-vít đem ra lòng đầy đau đớn của mình
trước mặt Đức Chúa Trời. Ông cảm thấy thất vọng nơi chính mính.
Sự tuyệt vọng nơi chính mình làm cho ông nối liền với Đức Chúa
Trời. Trong Thi Thiên 51:4 nói rằng: “Tôi đã phạm tội cùng Chúa,
chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; Hầu
cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, Và được thanh sạch
khi Chúa xét đoán.” Đa-vít nói vậy không phải là vì ông đã phạm
tội tà dâm, điều ông đang thật sự nói đó là ông đã phạm tội khi
lìa xa Đức Chúa Trời. Vấn đề xảy ra khi người ta tin chính mình
và đưa mình lên làm vua.
A-đam gặp bất hạnh khi ăn trái cây biết điều thiện và điều ác
để trở thành Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nói: “Dân ta đã làm
hai điều ác: Chúng nó đã lìa bỏ ta, là nguồn nước sống, mà tự
đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được.” (Giê-rê-mi
2:13). Theo lôgic của con người thì có nhiều loại tội lỗi, nhưng
trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, thì chỉ có hai loại. Đầu tiên
là lìa bỏ Đức Chúa Trời, và điều thứ hai là cố gắng tự chứa nước
cho chính mình. Đức Chúa Trời nói rằng Đa-vít đã từ bỏ Ngôi Lời
của Đức Chúa Trời khi lấy Bát-sê-ba và giết U-ri. Đức Chúa Trời
chỉ rằng Đa-vít đã xa cách Đức Chúa Trời; đó là khi ông phạm tội
cùng Đức Chúa Trời. Khi Đa-vít phạm tội lấy vợ của U-ri, chúng
ta thấy được ông có một tư tưởng rất thảnh thơi. Khi những người
khác đang tranh đấu trong chiến trường thì Đa-vít đa đi dạo trên
nóc nhà mình. Chúng ta thấy rằng Đa-vít không có nhờ cậy Đức Chúa
Trời trong chiến tranh, nhưng ông tự tin rằng họ có thể thắng
trân một các dễ dàng. Tấm lòng tự tin chính mình thì là một sự
sợ hãi nhất. Tấm lòng nầy dẫn người ta đến phạm tội gì cũng được.
Đa-vít không thể nói ra mình đã phạm tội nghịch cùng U-ri. Đó
chỉ là đỉnh của một núi băng đá. Điều đó chỉ đem tấm lòng gian
ác của Đa-vít ra ngoài. Từ trong sự xưng nhận của Đa-vít: “Tôi
đã phạm tội nghịch cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi.” Chúng
ta thấy rằng Đa-vít nhận thức rằng mình đã từ bỏ Đức Chúa Trời
và tin chính mình; đó là sự gian ác lớn nhất. Sau đó Đa-vít nói
rằng: “Đức Chúa Trời sẽ nói tôi là công bình và vô tội.” Trong
lúc đó, Đa-vít nghĩ rằng Đức Chúa Trời mỡ lòng với mình. Đa-vít
biết tấm lòng của Đức Chúa Trời cho chính mình.
Lý do Đa-vít nói rằng: “Không màng đến tội lỗi của tôi, Chúa Jêsus
sẽ nói rằng tôi là người công bình.” Là bởi vì Đa-vít nhận thức
được sự quyết định nầy không có liên quan gì đến hành vi của con
người. Đa-vít xưng nhận rằng bản ngã mình là một tội nhân trong
Thi Thiên 51:5 “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian-ác, mẹ tôi đã hoài-thai
tôi trong tội-lỗi.” Bởi vì ông biết rằng mình sanh ra trong sự
gian ác, và mình chỉ luôn phạm tội lỗi. Trong câu 5, Đa-vít nói
rằng: “Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết.”
Trong câu 13, Đa-vít nói: “Bấy giờ tôi sẽ dạy đường-lối Chúa cho
kẻ vi phạm.” Đa-vít biết cách thức của Đức Chúa Trời để được trở
nên trắng hơn tuyết. Trong câu 14, Đa-vít nói: “Hỡi Đức Chúa Trời,
là Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi, Xin giải tôi khỏi tội làm
đổ huyết, Thì luỡi tôi sẽ hát ngợi khen sự công bình của Chúa.”
Khi Đa-vít nói: “Xin giải tôi khỏi tội làm đổ huyết.” Là Đa-vít
nhận thức rằng mình không thể tự ra khỏi tội của mình được. Khi
Đa-vít nói: “Thì lưỡi tôi sẽ hát ngợi khen sự công bình của Chúa.”
Nghĩa là Đa-vít đã nhận biết sự cứu rỗi, Đa-vít đã nhận thức về
sự công bình của Đức Chúa Trời. Trong Ma-thi-ơ đoạn 5 có nói rằng:
“Phước cho những kẻ đói khác sự công bình, vì sẽ được no-đủ.”
Khi một người thật sự nhận thức rằng mình không có sự công bình,
thì người đó có thể được đầy dẫy sự công bình của Đức Chúa Trời.
Câu 17 nói về một tấm lòng ăn năn thống hối. Đây là tấm lòng của
người đã ngã té, và đây là tấm lòng mà Đức Chúa Trời vui thích.
Đa-vít nhận thức rằng mình phạm tội mỗi khi mình trở thành chủ
của mình. Khi tấm lòng đó bị đập bể, Đa-vít nhận được Đức Chúa
Trời chấp nhận và làm việc cho mình. Trong câu 16 nói rằng “Vì
Chúa không ưa thích của lễ,” nhưng trong câu 19 có nói: “Bấy giờ
Chúa sẽ ưa thích các của lễ công bình, Của lễ thiêu, và các con
sinh dâng trọn;” Cái gì khác nhau giữa hai điều nầy? Trong câu
18 nói rằng: “Cầu xin Chúa hãy làm lành cho Si-ôn tùy ý tốt Ngài;
Hãy xây cất các vách tường của Giê-ru-sa-lem.” Của lễ thiêu là
đã dâng lên qua sự công bình của Chúa Jêsus là trọn vẹn và chỉ
một mình Đức Chúa Trời có thể nhận. Khi sự công bình của chúng
ta thất bại, nhưng sự công bình của Chúa Jêsus đứng vững, thì
đó là khi Đức Chúa Trời chấp nhận chúng ta.
Từ trong lời cầu nguyện của Đa-vít, chúng ta thấy rằng ông không
có bị tội lỗi buộc mình lại trong khi cầu nguyện, “xin tha tội
tôi.” Nhưng lòng của ông nhận sự công bình của Đức Chúa Trời.
Sự xưng nhận, “xin tha tội tôi,” ra từ lòng của một người nhận
thức sự thương xót của Đức Chúa Trời là hy vọng duy nhất của mình.
Chỉ có một kết quả Đa-vít làm chủ chính mình là phạm tội; nhưng
khi tấm lòng ông bị vỡ đi, Đa-vít có thể nhận biết rằng Đức Chúa
Trời chấp nhận tấm lòng đó. Thật ra, qua tội lỗi nầy của Đa-vít
mà Chúa Jêsus đã xuống thế gian nầy. Trong gia phổ của Chúa Jêsus,
thì Bát-sê-ba có ở trong đó. Cũng như vậy, tội lỗi của chúng ta
cũng Chúa Jêsus đến thế gian nầy. Cách Đa-vít lấy vợ U-ri đó cũng
làm một trong những quá trình để Chúa Jêsus xuống thế gian nầy.
Đó là một tội mà Đa-vít không thể tránh được. Trong Rô-ma đoạn
5 có chép rằng: “Nhưng sự ban cho của ân điển thì sau nhiều tội
rồi, dẫn đến sự xưng công bình… nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm,
thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa.” Luật pháp bày tỏ ra tội
lỗi của con người để họ chỉ đặt hy vọng mình nơi Chúa Jêsus. Vợ
của U-ri làm cho Đa-vít ngậm miệng khi bày tỏ ra lòng của Đa-vít,
sự việc nầy dẫn đến việc Chúa Jêsus xuống thế gian nầy. Khi tội
lỗi chúng ta bị bày tỏ, sự công bình của chúng ta hoàn toàn bị
sụp đổ, chúng ta chỉ có thể liên kết với Chúa Jêsus. Lý do một
người không trở nên công bình là vì vẫn con nắm giữ chính mình
và tin chính mình. Nhiều người không có tấm lòng của Đa-vít trong
Thi Thiên 51, cho nên họ xưng nhận tội lỗi mà không bao giờ nhận
được sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
|