HAI CON TRAI CỦA ÁP-RA-HAM
 
12. Nước bẩn và nước sạch
 
   
Nước bẩn và nước sạch

SỰ PHÀN NÀN CỦA CA-IN

Trong I Phi-e-rơ 2:22,23 chép về Đức Chúa Jêsus Christ rằng: “Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá. Ngài bị rủa mà không rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa...”
Chúa Jêsus khác với chúng ta trong nhiều cách. Ngài không chỉ thắng hơn bệnh tật, sự chết và Satan mà Ngài cũng chẳng hề phạm tội.
Một ngày nọ, tôi tạt vào một cửa hàng bán máy móc audio để mua một microphone. Trong khi thử chọn để mua, người bán hàng giới thiệu với tôi:
“Thưa ông, cái này có chất lượng rất tốt. Nếu muốn, ông có thể thử.”
“Giá bao nhiêu vậy?”
“Loại này khá đắt, vì tiền nào của nấy mà. Nó đắt hơn nhiều so với những cái còn lại.”
“Trông nó không có gì khác những cái kia, vậy tại sao đắt?”
“Ông không thể phân biệt theo kiểu dáng bên ngoài được. Khi dùng ông sẽ thấy sự khác biệt.”
Sau khi thử, tôi rất hài lòng với chất lượng của nó và đã mua, mặc dù trông nó cũng không khác gì những cái khác.
Nếu ngày nay Chúa Jêsus còn sống giữa loài người, chúng ta cũng khó mà tìm thấy sự khác biệt của Ngài chỉ bởi nhìn thoáng qua. Trong những ngày Chúa Jêsus còn là con người cũng vậy. Giống như chúng ta, Ngài cũng có tay, chân, mắt, tai. Ngài cũng phải ăn và ngủ. Cũng giống như chiếc microphone có sự khác biệt rất ít về kiểu dáng bên ngoài nhưng có chất lượng toàn hảo, thì Đức Chúa Jêsus Christ cũng khác chúng ta như vậy. Ngài đã khác với chúng ta trong nhiều cách khác nhau, nhưng ở trên hết Ngài không phạm tội.
Có một sự khác biệt hoàn toàn giữa cách nhìn của Đức Chúa Trời về chúng ta và cách nhìn của chúng ta về chính mình. Con người không muốn nhìn nhận rằng họ chỉ có thể phạm tội như một cố tật.
Trong Sáng-thế ký đoạn 4, sau khi Ca-in giết A-bên là em mình, ông nghe Đức Chúa Trời hỏi:
“Ca-in, A-bên em ngươi ở đâu?”
“Tôi không biết. Tôi là người giữ em tôi sao?”
Thay vì nói sự thật, ông đã giả vờ hỏi ngược lại Đức Chúa Trời.
Ngay cả trước khi giết A-bên, Ca-in đã ấp ủ một ác tưởng, và ác tưởng đó đã xô đẩy ông đến chỗ giết người. Ông đã không biết điều đó. Nếu ông biết được như vậy chắc ông đã than khóc xưng tội mình: “Lạy Đức Chúa Trời, tôi thật là một con người gian ác! Tôi đã giết người. Tôi đã giết A-bên.”
Nhưng câu trả lời của Ca-in là: “Tôi không biết. Tôi là người giữ em tôi sao?” Điều này cho chúng ta thấy ông chẳng hề nhìn nhận rằng ông là kẻ giết người, ngay cả khi ông đã giết em mình là A-bên. Nếu ông nhìn thấy sự xấu xa trong ông có đủ để giết người thì hẳn ông đã xưng ra mình là kẻ giết người. Nhưng ông đã không nhìn nhận, dù ông đã giết A-bên.
Chúng ta cũng giống như vậy. Nếu chúng ta ăn cắp hoặc nói dối, thì chúng ta sẽ dễ dàng nhìn nhận là chúng ta đã làm như vậy, nhưng chúng ta không thể chấp nhận rằng chúng ta là những kẻ cắp và những kẻ nói dối. Nói tóm lại, chúng ta nhìn nhận rằng chúng ta đã phạm tội nhưng chúng ta không thích nhìn nhận chúng ta là xấu xa đến mức mà chúng ta chỉ có thể phạm tội mà thôi.
Nếu một cây táo nhìn nhận rằng nó mang trái táo nhưng lại không muốn nhìn nhận mình là cây táo thì có câu chuyện nào buồn cười hơn thế không? Nếu cây lê nói rằng: “Tôi không phải là cây lê nhưng tôi vẫn ngẫu nhiên mang trái lê mà thôi!” Thật là một câu nói kỳ lạ! Cây lê không phải ngẫu nhiên mang trái lê, cây táo không phải vô tình mang trái táo. Đó là vấn đề cơ bản mà chúng ta đang nói đến. Chúng ta phạm tội bởi vì chúng ta không thể không phạm tội. Không phải do lỗi lầm của chúng ta mà chúng ta làm điều ác đâu.
Nhiều người nhìn nhận rằng họ đã nói dối nhưng họ lại không chấp nhận họ là kẻ nói dối, và họ nhận thức rằng đôi khi họ cũng ăn cắp nhưng họ không nhìn nhận họ là những kẻ cắp. Họ nhìn nhận rằng họ đã vô tình ấp ủ những ý tưởng tà dâm nhưng họ không nhìn nhận rằng họ là những kẻ tà dâm. Họ tin rằng họ phạm tội vì lầm lỗi. Do đó, họ nghĩ rằng nếu họ nổ lực, họ có thể không phạm tội.
Sự khác nhau giữa cách nhìn của Đức Chúa Trời về con người và cánh nhìn của con người về chính mình đó là Đức Chúa Trời không bao giờ ra lệnh cho chúng ta làm điều tốt vì Ngài biết rõ rằng chúng ta là xấu luôn, chỉ có thể phạm tội và tự chúng ta không thể nào tốt được. Con người có ảo tưởng rằng họ có thể trở nên người tốt và cứ tiếp tục cố làm điều tốt. Do đó, Đức Chúa Trời đã lập nên luật pháp để ước định với con người: “Các ngươi hãy tự tra xét xem các ngươi có thể làm điều tốt không?”
Ngay cả khi con người ráng sức và phấn đấu để làm theo luật pháp Đức Chúa Trời ban cho họ thì vẫn không có một người nào giữ luật pháp trọn vẹn được. Điều này chứng tỏ rằng con người về cơ bản là xấu xa. Chúng ta phải chấp nhận điều đó. Nhưng con người không biết rõ điều đó và họ đã không từ bỏ sự phấn đấu để làm điều thiện, nhưng cuối cùng họ đã thất bại. Họ cố phụng sự Đức Chúa Trời bằng khả năng của chính họ.
“Đức Giê-hô-va từ trên trời ngó xuống các con loài người, đặng xem thử có ai khôn ngoan tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng. Chúng nó thay thảy đều bôi nghịch, cùng nhau trở nên ô uế; Chẳng có ai làm đều lành, dầu một người cũng không.” (Thi-thiên 14:2,3)
Trong Kinh Thánh có nhiều lần chép rằng con người không có gì tốt cả, họ chỉ là xấu luôn. Nếu một cây
ô-li-ve hoang muốn có trái cây ô-li-ve thì nó cần phải bị chặt đi và được tháp vào cây ô-li-ve (Rô-ma 11:17,18). Cũng vậy, chúng ta không thể làm hài lòng Đức Chúa Trời mà lại không được tái sanh. Chúng ta có thể tự khoác cho mình một dáng vẻ bền ngoài thánh khiết, công bình và tốt đẹp nhưng chúng ta không bao giờ có thể làm hài lòng Đức Chúa Trời bằng điều này. Chúng ta phải được tái sanh.

NƯỚC BẨN VÀ NƯỚC SẠCH

Đức Chúa Jêsus là hoàn thiện. Kinh Thánh chép Ngài không có điều ác nào cũng chẳng hề phạm tội. Đức Chúa Trời phán rằng Ngài chỉ giải cứu chúng ta qua Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài không trông mong gì nơi con người ngay từ ban đầu vì Ngài biết rằng con người chẳng bao giờ có thể làm điều thiện nhưng cứ phạm tội và con người cũng không thể nên thánh và công bình bằng chính nổ lực của mình.
Dù chúng ta có phạm bao nhiêu tội cũng không quan trọng, vấn đề là Chúa Jêsus có phạm tội không. Do đó, Đức Chúa Trời chỉ nhìn xem đời sống của Chúa Jêsus, và Kinh Thánh chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng Chúa Jêsus Christ chẳng hề phạm tội.
Khi chúng ta so sánh Chúa Jêsus Christ với chúng ta, chúng ta chỉ là một thứ nước bẩn thỉu gồm tất cả những thứ dơ bẩn và hôi hám; còn Chúa Jêsus là nguồn nước trong sạch không có một chút nhơ bẩn nào trong đó cả. Khi nguồn nước bẩn lâu ngày, ứ lại ở một chỗ, thì những thứ dơ bẩn dần dần lắng xuống và phần ở trên có vẻ như sạch sẽ. Nhưng chúng ta không thể phân biệt được sự khác nhau giữa nước bẩn và nước sạch nếu chỉ căn cứ trên bề mặt của nó.
Tuy nhiên, khi chúng ta lấy một cái que để quậy lên thì chẳng bao lâu chúng ta sẽ thấy rằng nước sạch thì vẫn sạch sau khi đã tạo ra vô số bong bóng hơi, nhưng nước bẩn thì không giống như vậy. Dù nước bẩn có vẻ sạch và trong như thế nào, thì khi bạn dùng một cây que quấy lên, bạn có thể thấy tất cả mọi loại đồ bẩn trong đó và sự ô uế sẽ lộ rõ ra.
Đây là sự khác biệt giữa Chúa và chúng ta. Hầu hết con người trông có vẻ tốt đẹp, thánh thiện, và chân thật, chỉ khi họ yên ổn không gặp sự khó khăn hay thử thách nào. Khi họ bị ném vào sự thử thách, cám dỗ hoặc đối diện với khó khăn, họ trở nên giận dữ và bộc lộ ra những xấu xa ẩn giấu trong ý tưởng và tấm lòng.
Có một người khẳng định rằng ông ta là Chúa Jêsus. Những người khác đã sững sốt khi nghe điều đó và hỏi ông ta: “Thế thì ông có thể chết trên thập tự thay chúng tôi không?”
Ông ta đáp: “Chắc chắn là được.” Thế rồi thình lình có một người quá giận dữ, và đã tát vào má người cho rằng mình là Chúa Jêsus. Bỗng nhiên người bị tát trở nên điên tức và kêu la ầm ĩ.....
“Ủa, ông nói ông là Chúa Jêsus mà. Sao ông lại giận dữ và phàn nàn thế kia?”
“...”
Dù chúng ta có thể tự bao phủ mình giống như Chúa Jêsus, thì ở trong chúng ta vẫn còn có điều gian ác. Do đó, dù là một người có tốt đến đâu, họ vẫn luôn tuôn ra sự giận dữ và rủa sả khi họ gặp khó khăn. Đây là những bản tính của con người. Để không phạm tội, con người phải không được phạm tội không những trong những hoàn cảnh tốt mà còn phải trong những hoàn cảnh tồi tệ nữa. Nếu một người được vui vẻ trong những hoàn cảnh tốt, và buồn phiền trước những hoàn cảnh xấu, đau đớn trước những khổ đau, và phạm tội dưới những hoàn cảnh tồi tệ buộc phải phạm tội, hay làm điều ác vào những thời điểm thích hợp, thì người đó không phải là người công bình.
Chỉ có một trường hợp của Chúa Jêsus thôi. Chúng ta dễ dàng thay đổi ý tưởng, nhanh chóng mất đi niềm vui trước những nỗi khó khăn của chúng ta. Nhưng Chúa Jêsus, là Đấng không có điều ác nào và chẳng hề phạm tội dưới bất kỳ hoàn cảnh nào.
“Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá; Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa...” (I Phi-e-rơ 2:22-23)
Chúng ta có khuynh hướng buông ra những lời rủa sả một cách vô ý thức khi người khác cũng làm như vậy với chúng ta. Nhưng Chúa Jêsus đã không rủa lại khi Ngài bị rủa. Nói tóm lại, Ngài không những không phạm tội trong những hoàn cảnh tốt, mà còn cả trong những hoàn cảnh khó khăn. “Khi Ngài chịu nạn, Ngài không ngăm dọa.” Ngài là một người thật sự không phạm tội.
Chúng ta vui mừng trong những hoàn cảnh tốt và buồn rầu trong những hoàn cảnh tồi tệ là điều tự nhiên. Đức Chúa Trời phán rằng sự tốt đẹp của con người làm cho con người tự phấn đấu để trở nên tốt, dường như chỉ được tốt trong những hoàn cảnh tốt, nhưng cũng vô ích bởi vì nó yếu đuối đến nỗi đã ngã gục trong những nan đề vụn vặt. Chẳng hạn, nếu một cái lò sưởi chúng ta vừa mua chỉ sưởi ấm trong mùa hè còn mùa đông lại vô dụng thì có gì là tốt. Nếu một cái máy lạnh chỉ hoạt động trong mùa đông mà không hoạt động trong mùa hè thì thật vô ích. Cũng vậy, nếu chúng ta có thể làm điều tốt trong những hoàn cảnh tốt nhưng chẳng bao lâu lại sa vào tội lỗi khi gặp khó khăn thì sự công bình như thế chỉ là vô dụng. Đây là lý do tại sao Đức Chúa Trời không trông mong gì nơi điều thiện hoặc sự công bình của con người dù họ có ráng sức và phấn đấu để được tốt đẹp.
Vì Đức Chúa Trời không hy vọng gì nơi sự tốt lành hoặc sự công bình của con người ngay từ ban đầu nên Ngài hứa sẽ sai Đức Chúa Jêsus Christ đến để cứu chúng ta. Vì vậy, Ngài đã đến trái đất này trong hình trạng của con người. Như tôi đã nói với bạn trong bài giảng số 11 này, Chúa Jêsus là sự quan tâm lớn lao của Đức Chúa Trời, thiên sứ và Satan trong suốt cuộc đời ba mươi ba năm của Ngài. Nếu Chúa Jêsus phạm tội, số phận của chúng ta bị hủy diệt dù chúng ta có cố trở nên tốt đến đâu. Vì Đức Chúa Trời hứa cứu chúng ta qua Đức Chúa Jêsus Christ chứ không qua công việc của chúng ta nên chúng ta có thể được cứu ngay cả khi chúng ta đã phạm nhiều tội lỗi.

ĐỨC CHÚA TRỜI CHỈ CHẤP NHẬN CHÚA JÊSUS

Đức Chúa Trời biết rõ rằng Đức Chúa Jêsus Christ chẳng hề phạm tội vì trong Ngài không có điều xấu xa nào. Như nước sạch chẳng bao giờ có những thứ dơ bẩn dù nó có bị khuấy động đến đâu. Chúa Jêsus chẳng hề làm bất cứ điều ác nào, ngay cả khi Ngài bị đánh đập, bị đe dọa và bị ném vào những hoàn cảnh cay đắng. Tại sao vậy? Vì Ngài không có sự xấu xa nào. Do đó Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng “Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá. Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại.”
Ngày nay, lý do tại sao nhiều người không thể được nâng lên đến nơi ân điển của Đức Chúa Trời vì họ lầm tưởng rằng họ không thể được cứu vì họ đã phạm quá nhiều tội. Nếu Đức Chúa Jêsus Christ phạm tội, chúng ta không thể nào được cứu.
Sự nổ lực để không phạm tội nhưng để được tốt hơn của chúng ta chỉ làm chúng ta càng xa cách sự trông cậy Chúa Jêsus, Đấng xưng công bình cho chúng ta. Hầu hết mọi người đều không biết về điều này.
Sự cứu chuộc không phụ thuộc vào việc chúng ta tốt đẹp, công bình và thánh khiết như thế nào. Kinh Thánh nhiều lần cho chúng ta biết rằng “Không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm nhưng cứ theo lòng thương xót của Ngài” (Tít 3:5). Đức Chúa Trời biết rằng chúng ta không có sự công bình nào và Ngài chẳng có thể giải cứu chúng ta theo công việc của chúng ta.
Khi bạn nhìn nhận rằng có sự xấu xa cố hữu trong bạn, thôi làm điều thiện và công bình theo khả năng riêng của bạn, chỉ nhìn xem Đức Chúa Jêsus Christ thì sự thánh khiết của Chúa Jêsus sẽ đến với lòng bạn, bạn sẽ được giải cứu khỏi sự xấu xa và sống một cuộc đời tốt đẹp.
Tôi xin lặp lại với bạn rằng Đức Chúa Jêsus Christ chẳng hề phạm tội. Đó là sự khác biệt giữa Ngài và chúng ta. Chúng ta không phạm tội trong những hoàn cảnh tốt nhưng sẽ làm điều xấu trong những hoàn cảnh tồi tề, sẽ dối trá và phạm tội. Tuy nhiên, Đức Chúa Jêsus Christ, con người công bình hoàn hảo, chẳng hề phạm tội trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Vì Ngài không phạm tội và không có sự dối trá trong miệng nên Đức Chúa Trời quyết định giải cứu chúng ta qua Đức Chúa Jêsus Christ.
Con đường đúng đắn dẫn đến sự cứu rỗi là nhìn xem Đức Chúa Jêsus Christ và tin cậy nơi sự công bình của Ngài, không tự che đậy mình trong sự công bình giả tự tạo nữa.
Trong thời Đức Chúa Jêsus, người Pha-ri-si và Sa-đu-sê cho rằng họ công bình hơn tội nhân và người thâu thuế. Nhưng bởi sự công bình của họ, họ không được cứu. Chúa Jêsus phán: “Nếu sự công bình của các ngươi chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si thì các ngươi chắc không vào được nước thiên đàng.” Mặc dù người Pha-ri-si hay người Sa-đu-sê có vẻ công bình hơn tội nhân hoặc người thâu thuế nhưng họ không thể không tái phạm tội. Vì vậy, giống như chiếc máy lạnh vô dụng chỉ hoạt động trong mùa đông mà không hoạt động trong mùa hè thì sự công bình của người Pha-ri-si, người Sa-đu-sê và của chúng ta trong mắt của Đức Chúa Trời chỉ là vô ích. Ngài chỉ chấp nhận sự công bình của Chúa Jêsus.
Trong suốt cuộc đời ba mươi ba năm của Ngài, Đức Chúa Jêsus Christ chẳng hề phạm tội và trong Ngài không có điều xấu xa nào. Chúng ta không thể tìm thấy bất kỳ sự xấu xa, phàn nàn, đe dọa hay rủa sả nào trong Ngài không những vào những khi hoàn cảnh trôi chảy mà còn trong những lúc Ngài bị trừng phạt, phỉ nhổ, đánh đập và đóng đinh. Đó là sự công bình mà Đức Chúa Trời chấp nhận. Nếu có một người sống tốt trong những hoàn cảnh tốt nhưng lại phạm tội khi phải đối diện với khó khăn thì Đức Chúa Trời không thể chấp nhận sự công bình như thế. Tại sao vậy? Vì họ có thể phạm tội vào bất cứ lúc nào.
Ca-in đã giết em của ông là A-bên. Trước khi giết A-bên, có lẽ ông mong muốn rằng Đức Chúa Trời sẽ chấp nhận ông. Tuy nhiên, ngay cả khi Ca-in giết A-bên, Đức Chúa Trời cũng không chấp nhận ông vì Ngài biết rằng Ca-in xấu xa đến mức có thể giết A-bên.
Dù chúng ta có làm điều thiện như thế nào, Đức Chúa Trời cũng không thể chấp nhận chúng ta. Vì sự công đức của chúng ta sẽ dễ dàng chuyển thành điều ác khi hoàn cảnh trở nên tồi tệ, nên Đức Chúa Trời chỉ chấp nhận Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài có thể làm Đức Chúa Trời đẹp lòng trong bất kỳ tình huống nào. Do đó, khi đến với Đức Chúa Trời, chúng ta hãy từ chối chính mình, chỉ tin cậy nơi sự công bình, tốt đẹp và thánh khiết của Chúa Jêsus, thì chúng ta mới có thể được chấp nhận.